Hôm nay, Thứ bảy ngày 06/06/2020

Chuyên mục 190 năm thành lập huyện

KIM SƠN DIỄN CA

KIM SƠN DIỄN CA

Cụ Vũ Thiệu Sủng

Xã Kim Chính – Kim Sơn – Ninh Bình

Sưu tầm – Biên Tập

 

 

Kim sơn phong cảnh huyện ta

Ngắm xem xinh đẹp như là bức tranh

Phía tây giáp giới tỉnh thanh

Bắc giáp Yên Khánh suốt vành Yên Mô

Đông liền Nha Hải (1) địa đồ

Phía nam một dải quanh co Lạch Đài (2)

Non sông tô điểm tốt tươi

Khí thiêng hun đúc lên nơi hữu tình

**********************

  

 

 

1/ Nha hải là : Sông Đáy

2/ Lạch Đài : Lạch Đài nối liền với sông Đáy chảy ra biển.

 

 

 

Đinh, tài thịnh vượng văn minh(1)

Ngày thêm ức lịch mầu xanh muôn vàn

Địa đầu từ xã Như Sơn

Về đây làm cói siêng hơn mọi nghề

Ruộng nương Dũng Thúy chăm ghê

Năng An cầy cấy thuyền bè sinh nhai

Xuân Hồi may dệt rất tài

Học hành thi cử văn bài cũng thông

Tốt thay Chỉ Thiện ngô khoai

Huệ Địch, Thành Đức dâu gai chăn vườn

 

  

 

/ Người – Của

/ làng đầu huyện Kim Sơn là giáp Như Đăng sau đổi là Như Sơn.

/Tên các làng: Trại Dũng Thúy, Trại Năng An, trại Xuân Hồi, có cụ Cử Phúc – cụ Tú Niên văn học nổi tiếng thời bấy giờ. Trại Chỉ Thiện, trại Thành Đức, trại Vệ Địch sau đổi là Huệ Địch

  

 

 

Cách Tân mở chợ bán buôn

Mông Hưu phá nghệ cõi chen vành vành

Hàm Phu cẩn thận hiền lành

Vốn thuyền trong sạch Lưu Thanh một dòng

Làng này sao bé lạ lùng

Một trăm bốn mẫu cả công tư điền

Quân chiên ương ngạnh thói quen

Đủ vành đủ vẻ có hèn có sang

Chất Thành ngay thực giỏi giang

Thịnh Giẩu hào trưởng vượng đường văn quan

 

 

 

 

1/ tên các làng: Trại Cách Tân, có chợ buôn bán, trại Hàm Phu; Giáp Lưu Thanh cả ruộng công, tư có một trăm linh bốn mẫu

( mỗi mẫu ba ngàn sau mét vuông (3600m2)

Trại Quân Chiêm

Lý Chất Thành: Cụ Phạm Tiến, đỗ cử nhân bổ tri huyện Hoàng Hóa – Thanh Hóa

 

 

 

 

Quyết Bình – cộng Nhuận khôn ngoan(1)

Đua nhau làm ruộng dân thuần tục hay

Mười năm làng kể trên đây

Thuộc về tổng Chất Thành đây rõ ràng

 

 

PHẦN HAI

Dĩ Ninh, Đạo Củ, Dưỡng Điềm(2)

Vui nghề sông biển chật nêm những thuyền

Hồi Thuần buôn bán có duyên

Tiện sông, tiện bến sẵn phiên chợ gần

Thảnh thơi Tuân Hóa – Đồng Nhân

Đại khoa Định Hướng chuyên cần Hy Nhiên

Nuôi tằm Dục Đức vẫn chuyên

Tức Hiêu, Cử Võ tranh tiên dựng cờ

Tổng hồi mười xã  dân cư

Lam làm chăn chỉ thực thà tranh đua

1/ Quyết bình: Lúc ban đầu đặt là ấp Thư Bình

/ Trại Công Thuận: Có ông tú tài Tỳ ái, võ có ông Trần Các

/ Trại Dĩ Ninh, trại Đạo Củ - ấp Dưỡng Điềm

/ Ấp Hồi Thuần có chợ lớn buôn bán sầm uất

Tên các làng: Trại tuân hóa – Trại Đồng Nhân

Trại Định Hướng: Ông phó bảng Vũ Xuân Tâm đỗ đậu khoa triều Thành Thái

Ấp Dục Đức - Ấp Tức Hiêu

Giáp Hàm Ân

 

PHẦN BA

 

Hàm Ân có phủ, có chùa

Có cầu xây đá có lò lung vôi

Đẹp ghê Thiết Kỷ nhuộn mầu (1)

Khéo mầu nguyệt bạc đẹp mầu thiên thanh

Duy hòa thương cổ rất sành (2)

Con thuyền lên thác xuống ghềnh quanh năm

Nông Tang, hiếu nghĩa thật chăm(3)

Lại nghề ấp vịt tằm nuôi thêm pha

Thú vui Tuân Đạo tài hoa(4)

Có nhà thờ lớn có tòa tháp cao

Cảnh vui Quy Hậu thanh tao(5)

Có sở huyện đóng có cầu đá xây

 

  

 

1/ấp Khiết Kỷ có làm nghề thợ nhuộn vải

2/ấp Duy Hòa có nghề buôn bán

3/ Trại Hiếu nghĩa trồng dâu làm ruộng

4/ Ấp Tuân Đạo đại da số dân theo Thiên Chúa giáo có nhà thờ cao đẹp

5/ Lý Quy Hậu huyện lỵ đặt ngay lúc ban đầu thành lập Kim Sơn

 

 

 

Trường học đó, trạm thư đây

Bên kia chợ lớn bên này hiệu to

Cửu canh Chí Tĩnh đủ trò(1)

Đã kinh dệt cửu lại là ươm tơ

Võ quan tuần lễ quản cơ(2)

Truyền hình hòa lạc kém ai(3)

Vui nghề cá biển chim trời tinh ngân

Văn tri phủ, võ cử nhân

Thông ngôn, ký lục mười phần đều hay

 

 

 

1/ ấp chí Tĩnh chuyên nghề ươm tơ, dệt vải

2/ Trại Tuần Lễ

3/ Ấp Hòa Lạc nhiều người thạo nghề truyền ảnh

 

 

 

Dẻo giang Như Độ Bành dày(1)

Kể hàng thực phẩm xưa nay ai tầy

Văn Đàn hàng huyện dựng xây(2)

Tổng Quy tính cả làng này mười dân

 

 

 

PHẦN BỐN

Phúc Điền đất tốt vô ngần

Làm nghề đánh chỉ rất cần rất chuyên

Nghề riêng Ứng Luật đan thuyền

Trung Qui văn đỗ đầu tiên tú tài (3)

 

 

 

 

(1/ )Ấp Như Độ chuyên làm bánh dày đi chợ bán

(2)/Văn Đàn hàng huyện ây dựng ngày mồng một tháng chín năm Tự Đưc thứ mười chín

(3)/Trại Trung Qui ông Lưu Đức Hợp đỗ tú tại khoa Kỷ Tỵ - Tự Đức thứ hai hai (22)(1869) khai khoa trong tổng Hướng Đạo

 

 

 

Tây khoa Lạc Thiện tiên khai

Giỏi nghề dệt lụa lại tài hoa man(1)

Lưu Quang thật khéo thiếp sơn(2)

Ở làng Hướng Đạo phát quan binh mà(3)

Cử nhân Đồng Đắc kế khoa(4)

Cói se, dệt chiếu cải hoa lạ lùng

Thanh nhàn mát mẻ Thủ Trung

Đánh đay dệt chiếu làm công nhẹ nhàng

Khen thay Kiến Thái sẵn sàng

Có cột dây thép dọc đàng chăng qua

Chính làng tổng hướng thế là

Đứng giữa hạng huyện đông ra tây vào

 

 

 

 

1/ Hoa man: Nghề hàng mã

2/Trại Lưu Quang có nghề thợ sơn

3/ Lý Hướng Đạo ông Trần Sửu ngày mười sáu tháng ba năm Mậu Thân – Tự Đức năm đầu trúng nhị trường cử võ xung cơ tam đội Ninh Bình. Năm Tự Đức thứ hai đỗ cử nhân võ bổ Bắc Ninh hải thuyền hậu quân.

Tực Đức thứ sáu ngày bốn tháng chín BinhsNgoj lafthij sai xuất đội trưởng phong hàm Chánh lục phẩm

4/ Ấp Đồng Đắc có hai cử nhân cùng họ Hoàng

-Ông Hoàn Xuân Thưởng đỗ tú tài khoa Mậu Ngọ - Tự Đức thứ mười bốn, năm Tân Dậu đỗ cử nhân, Canh Thìn – Tự Đức ba mươi ba (33) tri huyện Thanh Trì Hà Nội

- Cử nhân Hoàng Xuân đỗ cử nhân triều thành thái, bổ chi huyện nghĩa Hưng – Nam Định

 

PHẦN NĂM (5)

 

Cảnh vui Trì Chính phú hào(1)

Đi về tầu thủy ra vào hộ sinh(2)

Đồn tây, hiệu khách rung rinh

Nơi tòa dây thép nơi dinh Đốc Tờ(3)

Kim Đài nghề nghiệp thủy cơ(4)

Thung thăng thả lưới nhởn nhơ tắm chài

 

 

 

 

 

1/ giầu có sang trọng

2/ Lúc ấy Trì Chính có nhà hộ sinh công

3/ Có nhà bưu điện, có Đốc tờ khám chữa bệnh cho dân như bác sĩ thời nay

4/ Thủy cơ: Nghề sông, nước, chuyên nghề chài lưới

 

 

 

Tây đoan Thượng Kiệm tiên khai (1)

Sông chen bè mảng phố nhiều hiệu bôn

Phú Vinh chợ đại tiếng đồn

Đóng dày may áo trăm thuôn ngàn tài

Có đò ba tỉnh vãng lai (2)

Ô – Tô sình sịch ngược xuôi suốt ngày

Có quan tam phẩm văn giai(3)

Lã Bố chính xứ tỏ tài kinh luân

Đất thiêng người giỏi thói thuần

Giầu sang thịnh vượng mọi người đều hay

 

 

1/ Ở Cửa Lạch đài thuộc xã Thượng Kiệm đóng một trạm thu thuế thuyền bè đi lại cử một người Pháp và một tiểu đội thu thuế vãng lai các thuyền bè qua lại

2/ Thuyền bè từ Thanh Hóa, Nam Định, Nghệ An ra vào buôn bán ở chợ Phú Vinh

3/ Quan Tam Phẩm Nguyễn Chiểu – Bố chính Hà Nam

 

 

  

Tiếng thơm Phát Diệm xưa nay(1)

Có núi nhân tạo kiểu xây tài tình

Nhà thờ trạm đá rất xinh

Dưới sông cầu ngói trên dinh phố phường

Danh thơm lừng lẫy Lưu Phương(2)

Nghệ công tinh sảo văn công tầm thường

Mật Như, Ninh Mật, Nông Tang(3)

Gạch làng Yên Thổ đồn vang xa gần

Ken mành, chẻ nứa Tự Tân

Đan hoa, cải chữ có phần nổi danh

Vẻ vang sầm uất Xuân Thành (4)

Tổng Tự Tân ấy đất lành mười thôn

 

 

 

 

1/ Phát Diệm có nhà thờ Đức Bà làm toàn đá, chạm khắc rất tinh vi, phương đình làm toàn đá phiến trạm khắc rất mĩ thuật

2/ Ấp Lưu Phương xưa là Lưu Hương

3/ Trại Mật Như – Trại Ninh Mật – Trại Yên Thổ

4/ Ấp Xuân Thành xưa là ấp Yên Thành

 

 

PHẦN SÁU

Ân Giang rõ mặt người khôn

Yên Hòa hòa thuận Yên Bình bình ninh

Dân Tuy Lộc cũng đa đinh

Đất bồi văn mạch vương sinh tú tài

Một làng nay sẻ làm hai

Chia ra Hóa Lộc từ ngày tranh nhau

Kìa làng Tuy Định rất giầu

Đan lồng buôn bán, tằm dâu đủ trò

Nhất làng Văn Hải là to(1)

Hơn nghìn mười một mẫu đo thực thà

Bể văn sao chửa thấy khoa

Hay là thánh giáo còn xa bãi tần(2)

Tòng Tân, Tân Mỹ, Như Tân

Mỗi làng số lượng nghìn gần sáu trăm

Tòng Tân ấy ấy than thầm

Sáp vào Phát Diệm từ năm cụ Trần(3)

Tuy Lộc tổng có tám làng

Nết ăn ở, nết lam làm cùng nhau

 

 

 

 

1/ Làng Văn Hải đất rộng nhất huyện

 2/ Bãi tần: Bãi biển

3/Ấp Tòng Tân cụ Trần Lục cho sáp nhập vào Phát Diệm

 

 

PHẦN 7

Tuy Lai tốt lúa, cói, dâu

Có quan Thị giảng dựa vào văn giai

Dân thuần tục tốt Hoài Lai

Giáp đất Thanh Hóa là nơi Lai Thành

Rộng vườn vui thú siêng năng

Ba làng một tổng Lai Thành tiếng tăm./

 

Hành tàng võ thịnh hơn văn

Núi sông bao bọc cảnh dân sang giầu

Khéo thay hổ phục long chầu

Rõ ràng sơn thủy hợp giao chốn này

Sáu sáu (66) làng kể trên đây(1)

Chia thành bảy tổng từ ngày lập ra

 

 

 

1/ sáu mưới sáu (66) làng kể cả những làng mới lập về sau như Văn Hải, Tuy Định, Tòng Tân, Tân Mĩ, Như Tân. Buổi đầu xây dựng huyện có sáu mươi mốt làng.

Các làng ở Kim Sơn chia ra các đơn vị như sau: Giáp, trại, Phủ, lý. Căn cứ vào số người mộ được ban đầu đến khai khẩn. Mộ được mười người ( 10 ) thành giáp, mười năm người (15) thành trại, ba mươi người (30) thành ấp, năm mươi người (50) thành lý. Căn cứ vào số người chia ruộng đất. Các làng Kim Sơn chia theo hướng nam bắc. Bắc giáp Yên Khánh, Yên Mô, chạy dài ra biển. Đơn vị làng chia theo đông tây. Giáp rộng một đạc, Trại hai đạc rưỡi, ấp bốn đạc rưỡi, lý sáu đến tám đạc. Mỗi đạc sáu mươi mét vuông (60m2)