Hôm nay, Thứ tư ngày 22/05/2019

Kinh tế - Xã hội

Từ mảnh đất sình lầy, lau sậy, với muôn vàn khó khăn, sau 190 năm, nhất là trong thời kỳ đổi mới đất nước (từ năm 1986 đến nay), dưới sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, sự vào cuộc của các ban ngành, đoàn thể và sự quyết tâm, năng động, nhạy bén của người dân, huyện Kim Sơn đã từng bước khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của địa phương.

Về phát triển kinh tế:

Trong sản xuất nông nghiệp đã hình thành các vùng lúa cao sản, vùng lúa chất lượng cao, vùng lúa xen thuỷ sản, vùng lúa tái sinh, cây vụ đông, vùng nuôi trồng thuỷ sản, các trang trại. Tổng diện tích gieo trồng 2 vụ lúa toàn huyện là 16.394 ha. Là huyện luôn dẫn đầu của tỉnh về năng suất lúa. Năm 2018, năng suất lúa đạt 61,75 tạ/ha/vụ, tăng 15,75 tạ so với năm 1975 (46 tạ/ha), tăng 8,8 tạ so với năm 1987) (52,95 tạ/ha) - năm đầu tiên thực hiện công cuộc đổi mới. Tổng sản lượng lúa năm 2018 đạt 101.196 tấn; sản lượng lương thực có hạt đạt 103.952 tấn.

Đặc biệt từ năm 2016, thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững theo Nghị quyết số 02-NQ/HU, ngày 11/8/2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, Nghị quyết số 05-NQ/TU, ngày 24/10/2016 của BCH Đảng bộ tỉnh về “Phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao, hình thức sản xuất tiên tiến, bền vững giai đoạn 2016- 2020, định hướng đến năm 2030” đã nâng giá trị sản phẩm trên 1 ha đất nông nghiệp từ 57,17 triệu đồng năm 2008, lên 160 triệu đồng năm 2018.

Là huyện duy nhất của tỉnh tiếp giáp với biển, Đảng bộ huyện xác định phát triển kinh tế biển là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế chung của huyện. Hiện nay, nuôi trồng thủy sản bước đầu trở thành ngành sản xuất hàng hóa tập trung, đã xây dựng được thương hiệu “Ngao Kim Sơn”. Năm 2018, diện tích nuôi trồng thủy sản là 4.116,6 ha, tổng sản lượng thuỷ, hải sản đạt 26.005 tấn tăng 16.134 tấn so với năm 2010 (gấp 40 lần) so với năm 1993.

Trong 3 năm gần đây, mô hình ươm nuôi, khai thác ngao khu vực Cồn nổi khá phát triển, trung bình 1ha cho doanh thu trên 300 triệu đồng/năm. Ngày 24/4/2015, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 378/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế vùng ven biển Kim Sơn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Từ đây sẽ mở ra hướng mới để kinh tế biển Kim Sơn phát triển bền vững, tương xứng với tiềm năng, thế mạnh sẵn có của địa phương.

Về phong trào xây dựng nông thôn mới:

Toàn huyện có 16 xã đạt chuẩn nông thôn mới gồm: Kim Đông, Thượng Kiệm, Yên Mật, Quang Thiện, Đồng Hướng, Lai Thành, Yên Lộc, Tân Thành, Như Hòa, Ân Hòa, Hùng Tiến, Kim Chính, Lưu Phương, Văn Hải, Chất Bình và Định Hóa. Phấn đấu hết năm 2019, có thêm 2 xã: Chính Tâm, Kim Định đạt chuẩn nông thôn mới. Kim Đông và Thượng Kiệm là hai xã đầu tiên đạt chuẩn nông thôn mới năm 2014.

Về CN-TTCN:

Ngành Công nghiệp - xây dựng đạt mức tăng trưởng bình quân gần 10%/ năm. Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển. Nghề thủ công có tính truyền thống, tạo ra những sản phẩm đặc sắc ở Kim Sơn là hàng mỹ nghệ cói. Các ngành dịch vụ tiếp tục có bước phát triển. Huyện đã phê duyệt quy hoạch khu trung tâm thương mại và kêu gọi 5 doanh nghiệp đầu tư tại khu Trung tâm hành chính mới của huyện.

Về trụ sở làm việc của các cơ quan hành chính các cấp:

Hiện có 18 trụ sở UBND các xã, thị trấn được xây dựng theo mẫu mới nhà 3 tầng, có 9 trụ sở UBND xây dựng theo mẫu nhà 2 tầng. Trụ sở UBND huyện đang được xây dựng mới tại khu Trung tâm hành chính mới, dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2019. Hiện tại, đã có 13 công trình trụ sở các cơ quan ngành dọc của tỉnh, huyện và một số tuyến đường đã xây dựng xong và đưa vào sử dụng tại khu Trung tâm hành chính mới của huyện.

Về hệ thống giao thông:

Trên 90% đường giao thông nông thôn đã được cứng hóa; các tuyến đường do tỉnh làm chủ đầu tư cơ bản đã hoàn thành và đưa vào sử dụng như đường ĐT481, ĐT480, đường tránh QL10, đường phía Nam sông Ân. Hiện nay, một số dự án lớn đang được triển khai như: Tuyến đường bộ ven biển, tuyến đường Bái Đính - Kim Sơn...

Về hệ thống chợ:

Kim Sơn có Chợ Nam Dân ở thị trấn Phát Diệm được Bộ Công thương quy hoạch thành chợ đầu mối tổng hợp hạng 1, ngoài ra có các chợ sau được xếp hạng chợ loại 2, 3 như: Chợ Cách Tâm - xã Chính Tâm, Chợ Chất Bình - xã Chất Bình, Chợ Cồn Thoi - xã Cồn Thoi, Chợ Kim Đông - xã Kim Đông, Chợ Kim Mỹ - xã Kim Mỹ, Chợ Lưu Phương - xã Lưu Phương, Chợ Quang Thiện - xã Quang Thiện, Chợ Quy Hậu - xã Hùng Tiến, Chợ Văn Hải - xã Văn Hải, Chợ Yên Lộc - xã Yên Lộc.

Về văn hóa, y tế, giáo dục:

Các hoạt động văn hoá, thông tin, truyền thanh, thể dục thể thao phát triển mạnh mẽ, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của nhân dân. Toàn huyện đã có 22 nhà văn hóa xã, 276/298 nhà văn hóa thôn, xóm, khối, phố.

Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân được quan tâm, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế được tăng cường, chủ động kiểm tra, giám sát phòng ngừa dịch bệnh, vệ sinh môi trường nên trong những năm vừa qua không xảy ra dịch bệnh lớn trên địa bàn. 27/27 xã thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế mức độ 1, trong đó 7/27 xã thị trấn đạt chuẩn y tế mức độ 2, giai đoạn 2011-2020

Phong trào hiến tặng giác mạc được đông đảo nhân dân, nhất là đồng bào Công giáo tham gia. Hết năm 2018, Kim Sơn có 10.946 người đăng ký hiến tặng giác mạc sau khi qua đời, đã có 287 người hiến giác mạc, được Nhà nước, Chính phủ, Bộ Y tế ghi nhận và biểu dương đơn vị dẫn đầu toàn quốc.

Chất lượng giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học được nâng lên. Trường THPT Kim Sơn A và THPT Kim Sơn B được đánh giá và xếp thứ hạng cao trong các trường THPT về số lượng học sinh thi đỗ đại học năm 2017 trên toàn quốc. Toàn huyện có 75/83 trường học đạt chuẩn Quốc gia, gồm: Mầm non 23 trường (trong đó có 02 trường đạt chuẩn mức độ 2: Thượng Kiệm và Như Hòa), Tiểu học 29 trường (trong đó có 15 trường đạt chuẩn mức độ 2) và 23 trường THCS.

Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình và trẻ em từng bước được xã hội hoá, tỷ lệ sinh bình quân hàng năm giảm 0,25‰, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống dưới 12,5%. Đời sống của người dân được cải thiện và từng bước nâng cao. Các chính sách xã hội được quan tâm đúng mức, tỷ lệ hộ nghèo năm 2018 còn 6,38%, hộ cận nghèo còn 8,26%, hộ có mức sống trung bình 21,63%; thu nhập bình quân đầu người năm 2018 đạt 35 triệu đồng.

Về xây dựng hệ thống chính trị:

Ngày 06/6/1947, tại Đình Thượng làng Tuy Lộc, xã Trưng Nhị (nay là xã Yên Lộc), Đảng bộ huyện Kim Sơn được thành lập gồm 21 đảng viên. Đây là sự kiện lịch sử - chính trị quan trọng, đánh dấu sự trưởng thành của phong trào cách mạng ở Kim Sơn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, quân và dân Kim Sơn đã đoàn kết, quyết tâm, anh dũng chiến đấu, góp phần cùng cả nước làm lên chiến thắng lịch sử trước thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như giành những thắng lợi quan trọng trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.

Trải qua 72 năm, 23 kỳ Đại hội, Đảng bộ huyện Kim Sơn từ 21 đảng viên khi mới thành lập, đến tháng 12/2018, toàn huyện có 7.715 đảng viên, 76 tổ chức cơ sở đảng, 27 đơn vị hành chính (25 xã, 2 thị trấn).

MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG LỚN ĐỂ HUYỆN KIM SƠN PHÁT TRIỂN TRONG THỜI GIAN TỚI

  1. Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội

- Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Huyện ủy thực hiện nghiêm túc Quy chế làm việc, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong Đảng, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và mối quan hệ công tác; định kỳ và đột xuất tổ chức các hội nghị để thảo luận, cho ý kiến, đánh giá kết quả làm được, chưa làm được trên các lĩnh vực và thống nhất đề ra những nhiệm vụ, giải pháp để các cấp, các ngành từ huyện đến cơ sở tổ chức thực hiện.

- Các cấp ủy, tổ chức đảng tổ chức học tập, quán triệt, triển khai đầy đủ, kịp thời, nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Đảng, Nhà nước đến cán bộ, đảng viên. Tiếp tục thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện chủ đề hằng năm của Tỉnh ủy và của Ban Thường vụ Huyện ủy; duy trì, nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc tổ chức sinh hoạt chính trị dưới nghi thức chào cờ đầu tuần. Thường xuyên nắm chắc dư luận xã hội và diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân để chủ động xử lý, định hướng tư tưởng, dư luận, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc từ cơ sở.

- Thực hiện nghiêm túc, khách quan, đúng quy trình, quy định đối với các nội dung: Kiện toàn, sắp xếp, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ và chế độ, chính sách đối với cán bộ theo phân cấp; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận từ tuyển dụng, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí sử dụng cán bộ; thực hiện nghiêm túc việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, các chương trình, kế hoạch, đề án thực hiện các nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh ủy và Huyện ủy. Củng cố, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo Hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương; Làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ và công tác bồi dưỡng, kết nạp đảng viên. Tăng cường đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân. Tổ chức bỏ phiếu tín nhiệm (nếu có) theo quy định; thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ và chỉ đạo chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng cấp cơ sở và cấp huyện nhiệm kỳ 2020-2025.

- Các cấp ủy, UBKT các cấp thực hiện công tác kiểm tra, giám sát theo hướng giảm sát mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, kiểm tra cách cấp; chú trọng kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, kiểm tra cấp ủy viên cùng cấp; kiểm tra, giám sát những vấn đề nhạy cảm, dễ phát sinh vi phạm như công tác quản lý sử dụng đất đai, tài chính, công tác cán bộ, chính sách an sinh xã hội... Công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng phải được thực hiện nghiêm túc, đúng quy trình, quy định; kết luận rõ ưu điểm, khuyết điểm, tính chất, mức độ và nguyên nhân; sau kiểm tra, giám sát tăng cường đôn đốc các tổ chức, cá nhân thực hiện các kết luận kiểm tra, giám sát.

- Khối dân vận từ huyện đến cơ sở tập trung thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Đảng, Nhà nước về đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận, đẩy mạnh công tác dân vận chính quyền gắn với phong trào thi đua “Dân vận khéo”; đi sâu, đi sát, nắm chắc tình hình nhân dân, tình hình tôn giáo; vận động nhân dân thi đua phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng nông thôn mới, văn minh đô thị, không tham gia các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng trái quy định; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, các hương ước, quy ước, nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang và lễ hội.

- Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể từ huyện đến cơ sở căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc có hiệu quả các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh, của huyện về lĩnh vực nội chính và phòng chống tham nhũng lãng phí.

- Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, hội quần chúng từ huyện đến cơ sở thực hiện tốt Quyết định số 217-QĐ/TW, Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI); Quy định số 124-QĐ/TW, ngày 02/02/2018 của Ban Bí thư “Về giám sát của MTTQVN, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên”.

- Nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các cấp chính quyền từ huyện đến cơ sở; tích cực rà soát, xem xét, giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri; đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường kỷ cương, kỷ luật, trách nhiệm và chất lượng thực thi công vụ của cán bộ, công chức.

  1. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội
  2. Định hướng phát triển nông-ngư-lâm nghiệp

* Đối với ngành nông nghiệp:

- Triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới gắn với thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/HU, ngày 11/8/2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện về tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, Nghị quyết số 05-NQ/TU, ngày 24/10/2016 của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ứng dụng công nghệ cao, hình thức sản xuất tiên tiến, bền vững giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030. Xây dựng các vùng chuyên canh rau, quả theo hướng VietGap, phát triển chăn nuôi tập trung.

- Hình thành 2 vùng chuyên canh gồm:

+ Vùng I: Là vùng lúa hàng hóa chất lượng cao, phạm vi toàn bộ diện tích đất 2 lúa của các xã: Xuân Thiện, Chính Tâm, Chất Bình, Hồi Ninh, Kim Định, Ân Hòa, Hùng Tiến, Như Hòa, Quang Thiện, Đồng Hướng, Yên Mật, Thượng Kiệm, Lưu Phuơng, Tân Thành, Yên Lộc, Lai Thành. Các xã còn lại trồng lúa an ninh lương thực.

+ Vùng II: Là vùng chuyên nuôi trồng thủy sản với toàn bộ diện tích đất nuôi trồng thủy sản các xã: Kim Đông, Kim Trung, Kim Hải, Thị trấn Bình Minh và đất từ đê Bình Minh 2 đến đê Bình Minh 3.

* Đối với chăn nuôi: Phát triển ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm với quy mô tập trung theo mô hình trang trại và theo hướng con nuôi đặc sản.

* Đối với ngành thủy sản: Đẩy mạnh phát triển thủy sản, coi thủy sản là ngành  kinh tế mũi nhọn trong phát triên nông, lâm, ngư nghiệp nói riêng và kinh tế Kim Sơn nói chung. Đầu tư phát triển con nuôi vùng bãi bồi như: Tôm sú, ngao, cá nác, các vược…. 

* Đối với ngành lâm nghiệp: Duy trì ổn định diện tích rừng phòng hộ, phát triển trồng cây nhân dân, cây phân tán và cây lẫy gỗ. Đẩy mạnh trồng, bảo vệ rừng ngập mặn ven biển.

  1. Định hướng phát triển ngành công nghiệp-xây dựng

- Phát triển công nghiệp chế biên nông, lâm thủy sản nhất là công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm. Đặc biệt ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến từ nguyên liệu ngành thủy sản.

- Phát triển ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn. Khuyến khích tạo điều kiện cho các cơ sở, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cơ khí sửa chữa máy và thiết bị nông nghiệp.

- Phát triển ngành công nghiệp may mặc.

- Phát triển tiểu thủ công nghiệp: Tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách để phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề. Phát triển các lành nghề truyền thống, đặc biệt là nghề đan hàng xuất khẩu thủ công mỹ nghệ, nguyên liệu từ cói và vật liệu tết bện.

- Sớm xây dựng quy hoạch chi tiết Khu Công nghiệp Kim Sơn trong và ngoài đê Bình Minh 3 trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

  1. Định hướng phát triển các ngành dịch vụ

- Phát triển các ngành thương mại; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm. Chú trọng phát triển ngành vận tải. Mở một số tuyến vận tải hành khách liên huyện, liên tỉnh.

Cụ thể:

Xây dựng mới đường từ đê Bình Minh 3 ra Cồn Nổi, đường vành đai thị xã Phát Diệm; nâng cấp QL12B kéo dài nối từ Yên Lộc đến bờ biển Ninh Bình, đường Quốc lộ 32B qua xã Quang Thiện, đường tỉnh lộ 481D nối từ ngã ba Quy Hậu đến đò 10 sang Nam Định. Mở rộng bến xe khách tại thị trấn Bình Minh; nâng cấp bến xe tại Kim Đông thành bến xe liên vùng. Đầu tư nâng cấp, xây mới các bến đò, bến cảng. Đầu tư xây dựng cảng biển tại khu vực Kim Đài - Cồn Nổi có quy mô đón tàu 5.000-10.000 DWT. Đầu tư xây dựng kè chắn sóng bảo vệ Cồn Nổi.

- Phát triển du lịch: Khai thác có hiệu quả các điểm du lịch: Nhà thờ đá Phát Diệm, chùa Đồng Đắc, đền Nguyễn Công Trứ, Cồn Nổi, Vùng sinh thái bãi bồi ven biển Kim Sơn; Các xã ven biển dọc đường ĐT481, đê Bình Minh 1,2 xây dựng và phát triển các điểm sản xuất, chế biến các sản phẩm truyền thống của vùng biển. Khu vực Cồn Nổi phát triển xây dựng khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, tắm biển. Phía trong Cồn Nổi, bên ngoài đê Bình Minh 3 trồng rừng ngập mặn, giữ đất, tạo môi trường sinh thái để phát triển du lịch.

  1. Định hướng phát triển các lĩnh vực xã hội

- Tăng cường các giải pháp thực hiện tốt Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của BCH Trung ương (khóa XI) “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo...”. Chú trọng công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, trong đó trọng tâm là triển khai thực hiện chương trình hành động của Tỉnh ủy và kế hoạch của Huyện ủy về thực hiện Nghị quyết số 20, số 21-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của BCH Trung ương về “tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” và “công tác dân số trong tình hình mới”; làm tốt công tác vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ y tế cơ sở, thực hiện chính sách khuyến khích bác sỹ đến công tác tại tuyến xã. Quan tâm chăm lo đời sống nhân dân, đặc biệt là các đối tượng chính sách, hộ nghèo, cận nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

- Phát động mạnh mẽ các loại hình tập luyện thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe trong Nhân dân, đến năm 2025, 100% xã, thị trấn có điểm vui chơi, 100% các xã, thị trấn có sân thể thao phổ thông, 30% dân số thường xuyên tập thể thao, 25% số gia đình thể thao. Phấn đấu đến năm 2025 có 30 % dân số tham gia tập thể thao thường xuyên, bồi dưỡng đội ngũ vận động viên thể thao thành tích cao của huyện và tiếp tục đẩy mạnh hoạt động thể thao thành tích cao trong những môn mũi nhọn.

- Quản lý, sử dung hiệu quả các công trình thể thao quan trọng như sân vận động, nhà thi đấu và phấn đấu đưa đội bóng đá, bóng chuyền lên tầm cao mới trên nền tàng thể dục, thể thao toàn dân tốt.

  1. Định hướng phát triển kết cấu hạ tầng

- Tiếp tục củng cố, nâng cấp các tuyến giao thông hiện có, xây dựng mới một số tuyến đường liên tỉnh, đường tỉnh, đường đô thi. Phấn đấu 100% đường giao thông nông thôn được rải cấp phối, trong đó có 80% được trải bê tông, trải nhựa. Nâng cấp, mở rộng giao thông thủy: Nạo vét, chỉnh trị Cửa Đáy và các tuyến sông địa phương. Nâng cấp Cửa Đáy phục vụ việc bốc xếp, dịch vụ vận chuyển hàng hóa, vận chuyển than và vật liệu phục vụ công nghiệp. Đảm bảo cho tàu tải trọng 5.00-10.000 DWT ra vào. Phát huy hiệu quả sử dụng công trình khu neo đậu, tránh trú bão cho tàu thuyền tại Cửa Đáy.

- Xây dựng hệ thống thủy lợi kết hợp với giao thông nông thôn, quan tâm đến thủy lợi nội đồng, đảm bảo tưới tiêu chủ động cho cây lúa, cây vụ đông, cây cói, cấp thoát nước vùng nuôi trồng thủy sản. Nạo vét, kiên cố hóa kênh mương. Thực hiện các dự án củng cố và nâng cấp đê biển, xây dựng các công trình, dự án có thể phòng chống bão cấp 11, 12 với mực nước biển trung bình, cấp 8, cấp 9 đối với thời điểm triều cao.

- Rà soát, bổ sung và củng cố, xây dựng hạ tầng khu trung tâm đã được quy hoạch; thu hút các nhà đầu tư quan tâm đầu tư dự án xây dựng trung tâm thương mai, trung tâm hành chính, chợ đầu mối, sân thể thao, khu vui chơi, nhà nghỉ từ đó thu hút du khách trong nước và quốc tế.

- Quy hoạch, nâng cấp và xây dựng hoàn thiện hạ tầng đô thị khác của huyện như hệ thống điện chiếu sáng, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống xử lý rác thải sinh hoạt, chú trọng phát triển thị xã Phát Diệm và các khu du lịch trọng điểm, khu, cụm công nghiệp. Xây dựng thêm các công trình văn hóa thể thao tại thị trấn. Mở các phòng tập cao cấp hay trung tâm thể thao theo hướng gọn tại khu vực du lịch trọng điểm, thị trấn.

  1. Định hướng phát triển không gian lãnh thổ
  2. Định hướng xây dựng huyện Kim Sơn thành Thị xã Kim Sơn

Giai đoạn I (đến năm 2025): Tập trung nguồn lực xây dựng thị trấn Phát Diệm thành đô thị loại 4 trước năm 2025 với diện tích tương ứng 10km2 gồm Kim Chính, Thượng Kiệm, Thị trấn Phát Diệm, Tân Thành, Lưu Phương.

Giai đoạn II (tầm nhìn giai đoạn quy hoạch sau): Mở rộng không gian đô thị với phạm vi hướng Đông -Tây từ đường Hiếu Nghĩa xã Ân Hòa đến hết xã Yên Lộc; hướng Nam-Bắc từ đường vanh đai phía Bắc đến đường tránh Quốc lộ 10; hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng, hạ tầng xã hội để xây dựng đô thị Phát Diệm thành đô thị loại III, lúc đó huyện Kim Sơn thành thị xã Kim Sơn.

  1. Xây dựng đô thị Bình Minh: Lập quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết đô thị Bình Minh với tính chất và chức năng là đô thị loại 5, trung tâm văn hóa, khoa học, kỹ thuật, trung tâm dịch vụ, thương mại, kinh tế của khu kinh tế tổng hợp ven biển, có vị trí đặc biệt về an ninh, quốc phòng vùng ven biển.
  2. Xây dựng đô thị Kim Đông: Giai đoạn từ 2021-2030 khi đủ các yếu tố để hình thành đô thị loại 5, tại xã Kim Đông sẽ hình thành đô thị Kim Đông, chuyển dần tính chất quản lý từ xã lên thị trấn.
  3. Xây dựng đô thị Cồn Nổi: Hình thành đô thị tại Cồn Nổi với quy mô đất xây dựng đô thị khoảng 500 ha; đất quốc phòng diện tích 30 ha; đất du lịch 505 ha. Đô thị Cồn Nổi có tính chất dịch vụ vận tải, thương mại, du lịch hỗ trợ phát triển Khu kinh tế biển.
  4. Mở rộng đơn vị hành chính 3 xã Kim Đông, Kim Hải, Kim Trung ra đến đê Bình Minh 3
  5. Xây dựng, phát triển nông thôn: Tập trung mọi nguồn lực xây dựng nông thôn mới để huyện Kim Sơn sớm đạt huyện nông thôn mới trước năm 2025.
  6. Định hướng về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội

- Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên cơ sở củng cố, xây dựng thế trận phòng thủ, công trình quốc phòng nhằm đảm bảo giữ vững chủ quyền quốc gia trong tình hình mới..

- Lực lượng công an tiếp tục tham mưu cho cấp ủy, chính quyền làm tốt công tác đảm bảo TTATXH; triển khai các biện pháp nghiệp vụ đảm bảo an ninh chính trị, TTATXH, không để đột xuất, bất ngờ xảy ra; chú trọng công tác quản lý, đảm bảo ANTT khu vực biển. Phối hợp chặt chẽ trong phòng ngừa, đấu tranh trấn áp các loại tội phạm, nhất là tội phạm ma túy, cờ bạc; tăng cường kiểm tra, xử lý TTATGT

- Lực lượng Bộ đội Biên phòng trên địa bàn tiếp tục tham mưu thực hiện tốt Quy chế phối hợp giữa Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh với Ban Thường vụ Huyện ủy Kim Sơn và Quy chế phối hợp giữa UBND huyện với  Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh; tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát vùng cửa sông, vùng biển; đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại, khai thác trái phép thủy, hải sản.

 

(Nguồn: Ấn phẩm Kim Sơn 190 năm xây dựng và phát triển, xuất bản tháng 3 năm 2019)